Trong tình hình hội nhập kinh tế thế giới, việc cạnh tranh gay gắt giữa các sản phẩm trong nước và nước ngoài là điều không thể tránh khỏi. Vậy để có thể xuất khẩu sản phẩm vào thị trường Việt Nam, các nhà sản xuất cần phải đáp ứng những yêu cầu gì?
1. Kiểm tra chính sách mặt hàng (Diện nhập khẩu)
Để sản phẩm nước ngoài có thể nhập khẩu và lưu thông hợp pháp trên thị trường Việt Nam, nhà sản xuất nước ngoài cùng với doanh nghiệp nhập khẩu phải hoàn thành một hệ thống trải dài từ khâu đánh giá rủi ro, chứng nhận hợp quy, ghi nhãn số đến khởi tạo dữ liệu định danh trên nền tảng quốc gia.
NĐ 37 phân loại 3 mức độ rủi ro cho sản phẩm, hàng hóa, và mỗi bộ sẽ ban hành danh sách sản phẩm rủi ro cao, trung (như BCT và BXD ban hành TT 33, 49) gắn với mã HS chi tiết để làm căn cứ áp dụng các biện pháp kiểm soát.
|
Mức độ Rủi ro |
Biện pháp Chứng nhận & Công bố Hợp quy |
Cơ chế Kiểm tra Nhà nước khi Nhập khẩu |
Yêu cầu Nhãn số & Truy xuất Nguồn gốc |
|
Rủi ro Thấp |
Nhà sản xuất/nhập khẩu tự công bố tiêu chuẩn áp dụng (TCCS hoặc TCVN) và tự chịu trách nhiệm. |
Miễn kiểm tra nhà nước về chất lượng ở khâu nhập khẩu. |
Khuyến khích áp dụng nhãn điện tử và truy xuất nguồn gốc tự nguyện. |
|
Rủi ro Trung bình |
Bắt buộc Công bố hợp quy dựa trên kết quả tự đánh giá (với phiếu thử nghiệm từ phòng thử nghiệm được công nhận/chỉ định) hoặc kết quả chứng nhận từ tổ chức chứng nhận. |
Không thực hiện kiểm tra chất lượng tại cửa khẩu nhập khẩu; doanh nghiệp thực hiện công bố hợp quy trước khi lưu thông. |
Bắt buộc hoặc khuyến khích áp dụng nhãn điện tử; không phải công bố lại hợp quy cho các lô nhập tiếp theo nếu giữ nguyên đặc tính kỹ thuật. |
|
Rủi ro Cao |
Bắt buộc Chứng nhận hợp quy bởi Tổ chức chứng nhận được chỉ định và thực hiện Công bố hợp quy. |
Bắt buộc Đăng ký Kiểm tra Nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu trên Cổng thông tin một cửa quốc gia trước khi thông quan. |
Bắt buộc định danh UID, xác thực dữ liệu chủ và truy xuất nguồn gốc trên Nền tảng quốc gia theo lộ trình chuyên ngành |
Một số sản phẩm đặc thù yêu cầu phải có giấy phép nhập khẩu từ các Bộ ngành quản lý trước khi đưa vào Việt Nam (ví dụ: trang thiết bị y tế, dược phẩm, hóa chất, thiết bị viễn thông, …).
- Đánh giá sự phù hợp và kiểm tra chất lượng hàng nhập khẩu rủi ro Cao
- Đối với hàng hóa rủi ro cao, sản phẩm phải được thử nghiệm tại phòng thử nghiệm đã được cơ quan có thẩm quyền VN chỉ định hoặc thừa nhận => Cấp giấy chứng nhận
- DN nhập khẩu phải lập hồ sơ Đăng ký kiểm tra NN về chất lượng hàng hóa nhập khẩu trên Công thông tin một cửa quốc gia (vnsw.gov.vn) (Hồ sơ gồm Bản đăng ký theo Mẫu số 1, Giấy chứng nhận hợp quy, bản mô tả đặc tính kỹ thuật, nhãn gốc và mẫu nhãn phụ tiếng Việt. Trong trường hợp hàng hóa chưa có Giấy chứng nhận hợp quy theo lô, doanh nghiệp được phép đề nghị Hải quan cho đưa hàng về kho bảo quản để thực hiện lấy mẫu đánh giá. Đặc biệt, nếu hàng hóa cùng chủng loại, nhãn hiệu, xuất xứ do cùng một nhà sản xuất cung cấp đạt kết quả kiểm tra 03 lần liên tiếp, doanh nghiệp sẽ được xem xét chuyển sang Chế độ giảm kiểm tra với thời hạn hiệu lực 02 năm, giúp rút ngắn đáng kể thời gian thông quan)
- Nhãn hàng hóa, Nhãn điện tử (e-label) và hộ chiếu sản phẩm (DPP – digital product passport)
- Nhãn gốc vật lý (main label): Phải được thể hiện trực tiếp trên hàng hóa hoặc bao bì thương phẩm khi làm thủ tục thông quan, chứa các thông tin tối thiểu bằng tiếng nước ngoài hoặc tiếng Việt bao gồm tên hàng hóa, xuất xứ (hoặc nơi hoàn thiện công đoạn cuối cùng), tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc chịu trách nhiệm ở nước ngoài.
- Nhãn phụ tiếng Việt (Supplementary Label): Bắt buộc gắn trên hàng hóa hoặc bao bì thương phẩm trước khi đưa ra lưu thông tại thị trường nội địa. Nhãn phụ dịch chính xác nội dung từ nhãn gốc và bổ sung đầy đủ các thông tin bắt buộc theo tính chất ngành hàng quy định tại Phụ lục I như thành phần, thông số kỹ thuật, ngày sản xuất, hạn sử dụng, hướng dẫn bảo quản và cảnh báo an toàn.
- Nhãn điện tử (e-Label): Doanh nghiệp được lựa chọn thể hiện một phần hoặc toàn bộ nội dung nhãn qua vật mang dữ liệu số như mã QR, Data Matrix, RFID hoặc NFC. Đối với hàng rủi ro trung bình và cao, các nội dung cốt lõi bắt buộc thể hiện trên nhãn vật lý, còn các thông tin chi tiết khác có thể tích hợp vào nhãn điện tử. Nhãn điện tử phải được đăng ký và đồng bộ trên Hệ thống nhãn điện tử quốc gia (elabel.gov.vn), tuân thủ tiêu chuẩn ISO/IEC 18975 để bảo đảm khả năng truy cập công khai.
- Hộ chiếu Số Sản phẩm (Digital Product Passport – DPP): Áp dụng theo lộ trình do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. DPP được khởi tạo dưới dạng bản ghi dữ liệu điện tử gắn với mã định danh duy nhất của sản phẩm, tích hợp toàn bộ dữ liệu về mã GTIN, xuất xứ, truy xuất nguồn gốc, chứng nhận chất lượng và cảnh báo an toàn. DPP có giá trị thay thế nhãn điện tử nếu thể hiện đầy đủ các thông tin nhãn bắt buộc.
- Đăng ký Mã số Mã vạch GS1 và Khai báo Dữ liệu Chủ (Master Data)
- Nhà sản xuất nước ngoài phải sử dụng Mã số thương phẩm toàn cầu (GTIN) do Tổ chức Mã số mã vạch quốc tế (GS1) hoặc đại diện quốc gia cấp 1 . Trước khi đưa sản phẩm ra thị trường Việt Nam, doanh nghiệp phải thực hiện khai báo Dữ liệu chủ (Master Data) lên Cơ sở dữ liệu mã số mã vạch quốc gia (vnpc.gs1.gov.vn). Dữ liệu chủ bao gồm mã GTIN, tên sản phẩm, nhãn hiệu, mô tả kỹ thuật, phân nhóm sản phẩm, tên nhà sản xuất, thị trường mục tiêu và hình ảnh thương phẩm. Dữ liệu này là căn cứ gốc để đối chiếu tính hợp pháp của hàng hóa trong suốt quá trình lưu thông.
- Nghĩa vụ Định danh Số (UID/DID) và Truy xuất Nguồn gốc trên Nền tảng Quốc gia (Nghị định 372/2026/NĐ-CP)
- Từ ngày 01/01/2027, toàn bộ sản phẩm thuộc danh mục rủi ro cao xuất khẩu vào Việt Nam bắt buộc phải thực hiện định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa do Bộ Công an xây dựng và quản lý trên hạ tầng chuỗi khối quốc gia.
- Nhà sản xuất và nhà nhập khẩu phải khởi tạo mã UID dưới dạng cấu trúc đường dẫn số GS1 Digital Link (https://[DOMAIN]/01/[GTIN]/10or21/[SGTIN]) phù hợp với TCVN 13274 cho từng lô/mẻ hoặc từng đơn vị sản phẩm. Mã UID (mã định danh sả phẩm, hàng hóa) được tự động liên kết với Mã định danh phi tập trung (DID) của chủ thể và mã DID của sản phẩm trên Nền tảng chuỗi khối.
- Tại mỗi Sự kiện Trọng yếu (Critical Tracking Events – CTEs) trong chuỗi cung ứng — như sản xuất, đóng gói, kiểm định, thông quan hải quan, xuất kho vận chuyển — chủ thể chịu trách nhiệm phải sử dụng khóa bí mật để ký số và khởi tạo Chứng chỉ số (Digital Certificate) tương ứng qua mã UID. Trung tâm Dữ liệu quốc gia sẽ tổng hợp các chứng chỉ số này thành Bằng chứng số (Digital Proof) để phục vụ cơ quan Hải quan, lực lượng quản lý thị trường và người tiêu dùng kiểm tra, xác thực tính toàn vẹn của dữ liệu qua ứng dụng VnUID (vnuid.gov.vn) (hiện web này chưa vào được, chưa biết đã tạo, hoạt động như thế nào?)
- Kết luận
Quy định thay đổi, tăng cường, số hóa nhãn mác và bắt buộc định danh UID/DID trên hạ tầng chuỗi khối quốc gia, trong bối cảnh việc tuân thủ quy định được siết chặt trong thời gian qua => tăng chi phí tuân thủ. Bên cạnh đó, ý thức người tiêu dùng tăng cao, và số hóa cũng là xu hướng => các doanh nghiệp sẽ chịu chi hơn để tiếp cận/mở rộng thị trường đang trên đà tăng trưởng nhanh của Việt Nam.
TKR đã sự am hiểu tường tận quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành (QCVN đối với lốp xe/phụ tùng ô tô), quy trình làm việc với các trung tâm thử nghiệm, cơ quan kiểm tra chất lượng và cơ quan Hải quan; đã có thị phần và tên tuổi nhất định trong mảng kinh doanh này.
Contact info: [email protected]